CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CÓ HIỆU LỰC VÀO THÁNG 7/2025
  1. LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 41/2024/QH15

Điểm mới nổi bật:

  • Giảm số năm đóng để hưởng lương hưu

Một trong những thay đổi quan trọng nhất là giảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội để được hưởng lương hưu. Cụ thể, từ ngày 01/07/2025, người lao động chỉ cần đóng BHXH tối thiểu 15 năm (thay vì 20 năm như quy định hiện hành) là đã có thể hưởng lương hưu hàng tháng, nếu đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định.

  • Xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng
  • Tầng 1: Trợ cấp hưu trí xã hội (do ngân sách nhà nước đảm bảo);
  • Tầng 2: BHXH bắt buộc, tự nguyện (do người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước đóng);
  • Tầng 3: Hưu trí bổ sung (tự nguyện, có tính chất thương mại).
  • Mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

Luật mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội bắt buộc cho nhiều nhóm lao động hơn, bao gồm:

  • Người làm việc theo hợp đồng từ 1 tháng trở lên (trước là từ 3 tháng trở lên);
  • Người quản lý doanh nghiệp có hưởng lương;
  • Người làm việc tại HTX, tổ hợp tác có trả công;
  • Một số nhóm khác làm việc không theo hợp đồng, nhưng có yếu tố lao động ổn định.

Điều này thể hiện nỗ lực bao phủ toàn dân, giảm tình trạng “trốn đóng – né đóng” BHXH.

  • Tăng mức trợ cấp thai sản, dưỡng sức, mai táng
  • Trợ cấp mai táng: Tăng lên bằng 10 lần mức chuẩn thu nhập tháng (tăng gấp đôi so với quy định hiện hành).
  • Chế độ dưỡng sức sau thai sản: Tính bằng 30% mức chuẩn thu nhập tháng.
  • Lao động nam đang tham gia BHXH khi vợ sinh con đôi trở lên: Được nghỉ thêm 3 ngày/1 con.
  • Tăng tính linh hoạt và minh bạch cho người tham gia

  Người tham gia BHXH có thêm quyền:

  • Được yêu cầu cơ quan BHXH cung cấp thông tin đóng, hưởng của cá nhân.
  • Được giao dịch hoàn toàn điện tử, đăng ký tham gia BHXH tự nguyện, khai báo thay đổi, nhận lương hưu trực tuyến.

Cùng với đó là việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về BHXH, tích hợp với dữ liệu dân cư và thuế để hạn chế sai sót, gian lận.

Kết luận

Luật Bảo hiểm xã hội 2024 là bước cải cách toàn diện, tạo nhiều thuận lợi và công bằng hơn cho người lao động. Việc giảm số năm đóng, mở rộng đối tượng và thiết kế hệ thống đa tầng đã cho thấy hướng đi hiện đại, nhân văn và tiệm cận với chuẩn quốc tế.

  1. PHÁP LỆNH 05/2024/UBTVQH15 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI VỀ CHI PHÍ TỐ TỤNG

Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành vào ngày 11/12/2024, có hiệu lực từ 1/7/2025. Pháp lệnh này thay thế Pháp lệnh số 02/2012/UBTVQH13, nhằm quy định về chi phí tố tụng liên quan đến giám định, định giá, hội thẩm, người làm chứng, phiên dịch, luật sư… trong các vụ án, vụ việc dân sự, hình sự, hành chính .

Hệ thống hoá và mở rộng các loại chi phí

Tổng hợp lại các khoản chi phí giám định, định giá, thù lao cho bào chữa viên, hội thẩm, người làm chứng, người phiên dịch…Bổ sung rõ mức chi trong phụ lục kèm theo (ví dụ: (Hội thẩm: 900.000 đ/ngày; Bào chữa viên nhân dân: 700.000 đ/ngày; Người làm chứng/phiên dịch: 200.000 đ/ngày; …)

Cơ chế dự toán – thanh toán rõ ràng hơn

Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục lập dự toán, thanh toán, … Đồng thời căn cứ chi thực tế của năm trước, cơ quan tố tụng lập dự toán chi phí, tổng hợp vào ngân sách nhà nước. Trước đây các chế định còn lỏng lẻo, chưa được quy định theo tiến trình rõ ràng, nên dễ nảy sinh chậm thanh toán hoặc thiếu minh bạch.

Tư duy mới: Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 về chi phí tố tụng thể hiện rõ tư duy mới của nhà làm luật so với Pháp lệnh cũ số 02/2012/UBTVQH13 là tập trung vào 3 khía cạnh lớn: Quản lý tài chính tố tụng hiện đại – minh bạch hóa chi phí – bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng.

Tư duy quản lý tài chính tố tụng theo hướng chủ động và dự toán

Về dự toán ngân sách chi phí tố tụng theo Pháp lệnh mới thì sẽ được lập dự toán hàng năm, căn cứ số liệu chi thực tế, tối ưu hơn so với Pháp lệnh cũ là mang tính chủ động, rõ ràng. Quy trình tài chính giao trực tiếp cho Chính phủ quy định chi tiết thủ tục lập, thanh toán, quyết toán. Chuyển từ xử lý sau phát sinh sang lập kế hoạch chủ động, phù hợp quản trị ngân sách hiện đại.

Tư duy minh bạch – Cụ thể hóa chí phí tố tụng

Về chi phí người tham gia tố tụng được quy định cụ thể rõ ràng theo ngày, đối tượng (hội thẩm, phiên dịch,…). Ban hành phụ lục chi phí chi tiết, dễ áp dụng, dễ kiểm tra, thù lao được xác lập ở mức cố định, dễ kiểm tra và giám sát. Hướng tới minh bạch hóa toàn bộ chi phí tố tụng, giúp người dân và cơ quan quản lý đều dễ tiếp cận và kiểm soát.

Tư duy đảm bảo quyền lợi và bình đẳng tố tụng

Chuyển từ “Chiếu cố hỗ trợ” sang ghi nhận công sức và quyền chính đáng của người tham gia tố tụng thúc đẩy tính công bằng và tiếp cận công lý. Qua các hành động thực tế như về thù lao của bào chữa viên, người làm chứng, phiên dịch, người tham gia quá trình tố tụng được tăng chi phí hỗ trợ, các ưu đãi phản ánh đúng vai trò đóng góp.

Kết luận

Pháp lệnh 05/2024/UBTVQH15 có các ưu điểm nổi bật về các khoản thù lao – chi phí được quy định rõ ràng và cụ thể qua hệ thống dự toán ngân sách minh bạch, dễ theo dõi. Tăng tính trách nhiệm cho cơ quan tố tụng khi lường trước chi phí, thống nhất pháp lý và phù hợp quy định mới giúp thúc đẩy quá trình tố tụng hiệu quả, tránh hành vi gian lận gây chậm trễ tiến độ.

  1. NGHỊ ĐỊNH 86/2025/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ NGOẠI THƯƠNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI

Nghị định 86/2025/NĐ-CP – “Lá chắn pháp lý” chủ động cho doanh nghiệp Việt Nam trong thương mại quốc tế

Ngày 15/4/2025, Chính phủ chính thức ban hành Nghị định số 86/2025/NĐ-CP, quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu liên tục biến động và cạnh tranh ngày càng gay gắt, đây là một bước đi quan trọng giúp Việt Nam chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp và củng cố năng lực tự vệ quốc gia.

Phòng vệ thương mại – công cụ hợp pháp, không phải rào cản

Khác với suy nghĩ phổ biến rằng biện pháp phòng vệ là để “đóng cửa bảo hộ”, Nghị định 86 khẳng định đây là công cụ pháp lý chính đáng để bảo vệ ngành sản xuất trong nước khỏi những hành vi cạnh tranh không công bằng như bán phá giá, trợ cấp trái phép hoặc đột biến nhập khẩu.

Điểm nhấn quan trọng là các biện pháp này chỉ được áp dụng khi có điều tra khách quan, minh bạch, dựa trên bằng chứng rõ ràng, và đảm bảo tuân thủ các quy định của Việt Nam cũng như các cam kết quốc tế mà ta đã ký kết, đặc biệt trong khuôn khổ WTO và các FTA thế hệ mới.

Tư duy mới: Cân bằng lợi ích và quản lý rủi ro

Nghị định yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá đầy đủ tác động kinh tế – xã hội, kể cả ảnh hưởng đến người tiêu dùng và các ngành sản xuất liên quan. Đây là cách tiếp cận hiện đại, cân bằng, phản ánh tư duy quản lý lấy dữ liệu và lợi ích tổng thể làm trung tâm.

Đặc biệt, Nghị định thúc đẩy việc thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về nguy cơ bị điều tra phòng vệ từ các thị trường xuất khẩu chủ lực, thông qua phân tích dữ liệu, biến động giá cả và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Thay vì bị động đối phó, doanh nghiệp sẽ có công cụ để dự báo và chuẩn bị từ trước.

Cơ chế phối hợp – Không để doanh nghiệp đơn độc

Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ, đặc biệt trong các trường hợp bị điều tra chống trợ cấp tại nước ngoài. Doanh nghiệp Việt từng gặp nhiều khó khăn trong việc chứng minh rằng các chính sách ưu đãi (như miễn giảm tiền thuê đất, vay vốn ưu đãi, sử dụng quỹ KH&CN…) không phải là trợ cấp sai quy định.

Nghị định yêu cầu các bộ, ngành có trách nhiệm cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ và rõ ràng khi có yêu cầu hỗ trợ pháp lý, nhằm giúp doanh nghiệp giải trình hiệu quả và tránh bị hiểu sai bởi các cơ quan điều tra quốc tế.

Chủ động hơn trong chiến lược bảo vệ quyền lợi quốc gia

Nghị định cũng mở ra cơ chế để thương nhân Việt Nam yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc đề xuất biện pháp trả đũa thương mại hợp pháp nếu bị áp dụng các biện pháp tự vệ bất hợp lý từ phía nước ngoài. Điều này thể hiện lập trường rõ ràng của Việt Nam: sẵn sàng bảo vệ lợi ích quốc gia bằng các công cụ pháp lý chuyên nghiệp và bình đẳng.

Ngoài ra, doanh nghiệp Việt còn được khuyến khích tham gia với tư cách bên liên quan trong các vụ kiện tại WTO hoặc tổ chức tài phán quốc tế – qua đó, tăng cường tiếng nói và năng lực tranh tụng thương mại của quốc gia.

Hành động tiếp theo: Không chỉ có luật, mà là thực thi

Để Nghị định 86 thực sự đi vào thực tiễn, cần sự vào cuộc đồng bộ từ các cơ quan quản lý: Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp…, với các hoạt động cụ thể như xây dựng hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức tập huấn và phổ biến kiến thức pháp lý đến cộng đồng doanh nghiệp.

Một đề xuất đáng chú ý là xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phòng vệ thương mại và kết nối thông tin giữa các hiệp hội, ngành hàng và doanh nghiệp xuất khẩu để hỗ trợ cảnh báo và ứng phó sớm. Đồng thời, cần khuyến khích xã hội hóa dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực này để tận dụng nguồn lực chất lượng cao từ các tổ chức luật sư và chuyên gia quốc tế.

Tổng kết

Nghị định 86/2025/NĐ-CP thể hiện rõ một bước chuyển chiến lược từ bị động sang chủ động, từ đối phó sang chuẩn bị, từ bảo hộ sang cân bằng. Trong môi trường thương mại toàn cầu đầy rủi ro và cạnh tranh, doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng tốt các công cụ pháp lý mới này để không chỉ bảo vệ mình, mà còn nâng cao vị thế quốc gia trên bản đồ kinh tế quốc tế.

No comment

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *